|

VS.GS. TSKH. Trần Đình Long
|
Theo các chỉ số thường dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng điện năng trong nền kinh tế như cường độ tiêu thụ điện năng (mức sử dụng điện năng trên đơn vị thu nhập của tổng sản phẩm quốc nội – kwh/usd (GDP)) và hệ số bồi điện năng (tốc độ tăng trưởng của tiêu thụ điện năng so với tốc độ tăng trưởng của GDP) có thể thấy rõ hiệu quả sử dụng điện năng ở nước ta hiện nay rất thấp: Cường độ tiêu thụ điện năng khoảng 1,36 kwh/usd (giá 2005) và hệ số đàn hồi khoảng 1,94 - xấu hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới và khu vực.
Dự báo cho thấy, cường độ sử dụng điện năng còn tiếp tục tăng trong giai đoạn từ nay đến khoảng năm 2017-2018, trong khi hệ số đàn hồi điện năng cũng chưa có sự thay đổi đáng kể trong giai đoạn này. Đằng sau những con số vừa nêu là hàng loạt vấn đề kinh tế, xã hội, kỹ thuật có liên quan. Cường độ sử dụng và hệ số đàn hồi điện năng cao chứng tỏ công nghệ lạc hậu, hiệu suất thiết bị thấp, cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, từ đó kéo theo nhiều hệ lụy liên quan đến sử dụng tài nguyên năng lượng lãng phí, gia tăng tác động xấu đến môi trường, chi phí năng lượng cho một đơn vị sản phẩm cao, làm tăng giá thành của hàng hóa và giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường khu vực và thế giới.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và thúc đẩy tiết kiệm điện năng, còn rất nhiều việc phải làm từ phía khách hàng tiêu thụ, các đơn vị hoạt động cung ứng và đặc biệt, từ phía quản lý nhà nước, bao gồm việc xây dựng khung pháp lý, các chính sách, cơ chế liên quan đến sử dụng năng lượng, trong đó, quan trọng nhất phải kể đến là chính sách giá năng lượng, xây dựng các tiêu chuẩn, định mức về suất tiêu hao năng lượng, cơ chế khuyến khích sử dụng năng lượng hợp lý. Mới đây, Quốc hội đã xem xét và thông qua Luật về Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, khung pháp lý cơ bản cho mọi hoạt động trong lĩnh vực này.
Chính sách giá năng lượng đóng vai trò rất tính cực trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng, cải thiện các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của hệ thống cung ứng năng lượng. Một biểu giá hợp lý cho các dạng năng lượng thương mại như than, dầu, khí, điện có tác dụng thúc đẩy quá trình thay thế lấn nhau giữa các dạng năng lượng để đạt được một cơ cấu sử dụng hợp lý nhất giữa các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo thay thế các nguồn năng lượng hóa thạch. Lấy giá điện làm ví dụ: Biểu giá bậc thang lũy tiến đã góp phần hạn chế sử dụng điện quá mức trong tiêu dùng dân cư. Tuy nhiên, về mặt hiệu quả sử dụng năng lượng thì chế độ sử dụng và biểu đồ tiêu thụ điện lại có ý nghĩa lớn hơn. Chế độ sử dụng càng được điều hòa, biểu đồ tiêu thụ điện càng bằng phẳng, hiệu quả sử dụng điện năng đối với cả khách hàng và đơn vị cung ứng điện càng được nâng cao. Giá điện là yếu tố tác động rất hiệu qủa đến biểu đồ và chế độ sử dụng điện.
Biểu giá điện theo thời điểm sử dụng hiện đang áp dụng cho các khách hàng công nghiệp cần được phổ cập cho tất cả các loại hộ tiêu thụ. Mức chênh lệch về giá điện cao điểm và thấp điểm càng lớn, tác dụng thúc đẩy khách hàng tự động điều chỉnh biểu đồ sử dụng điện càng tích cực.
Cần xây dựng và áp dụng biểu giá 2 thành phần: Theo công suất cực đại và theo điện năng sử dụng, trong đó giá theo công suất cực đại có thể chiếm tỷ lệ quyết định, khách hàng phải đăng ký với đơn vị cung ứng điện lượng công suất lớn nhất có thể sử dụng.
Khi lượng điện năng tiêu thụ như nhau với biểu giá theo điện năng hiện nay, khách hàng sẽ trả tiền điện giống nhau; nhưng với biểu đồ giá 2 thành phần, khách hàng nào có biểu đồ sử dụng “nhọn” hơn, tức công suất cực đại lớn hơn sẽ phải trả nhiều tiền hơn, vì chính giá trị công suất cực đại sẽ ảnh hưởng lớn đến đầu tư chống quá tải, chế độ vận hành và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của lưới điện. Một trong những yêu cầu bức bách có ảnh hưởng đến quá trình sử dụng điện năng là việc xây dựng các tiêu chuẩn định mức tiêu thụ năng lượng tiên tiến và cơ chế để khuyến khích hoặc bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn định mức này.
Chẳng hạn ở Mỹ trước đây, trong ngành chế tạo ôtô, người ta không mấy quan tâm đến mức tiêu hao nhiên liệu; các tiêu chí được ưu tiên lựa chọn là tốc độ tối đa của xe, chỗ ngồi rộng rãi, tiện nghi trong xe… Nhưng gần đây, chính Tổng thống Obama đã đề cập đến vấn đề sản xuất ôtô phân khối nhỏ tiết kiệm nhiên liệu cho nhu cầu của nước Mỹ.
Các định mức tiêu hao năng lượng cho phép tối đa đối với nhiều thiết bị gia dụng như tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ… cũng được nhiều nước quan tâm. Một số nước thực hiện chế độ trợ giá cho các máy móc, thiết bị tiết kiệm điện năng hoặc sử dụng năng lượng tái tạo như chương trình Mục tiêu Quốc gia đã làm đối với việc lắp đặt đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời, hoặc Tập đoàn Điện lực Việt Nam tài trợ cho chương trình sử dụng đèn compact trong chiếu sáng. Trung Quốc và một số nước khác giảm thuế nhập khẩu đối với ôtô phân khối nhỏ, đối với thiết bị có hiệu suất cao hoặc tài trợ cho các dự án tiết kiệm năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo.
Nhà nước cũng cần ban hành các tiêu chuẩn thiết kế trong xây dựng liên quan đến tiêu thụ năng lượng như quy định sử dụng ánh sáng mặt trời cho các tòa nhà mức thông gió tự nhiên, tiêu chuẩn cách nhiệt cho các phòng có trang bị điều hòa nhiệt độ… Cơ chế tài chính là đòn bẩy cho hoạt động tiêt kiệm năng lượng, các dự án, các dây chuyền sản xuất thiết bị năng lượng hiệu suất cao cần được vay vốn lãi suất ưu đãi, thiết bị nhập khẩu phục vụ cho các dây chuyền này được hưởng mức thuế nhập khẩu thấp. Hoạt động dán nhãn tiết kiệm năng lượng cho các sản phẩm đã được nhiều nước thực hiện, có tác dụng định hướng cho các khách hàng khi lựa chọn thiết bị sử dụng năng lượng và cùng là yếu tố khích lệ các nhà sản suất cải tiến công nghệ, nâng cao hiệu suất của thiết bị năng lượng. Cơ chế thưởng phạt cho hiệu quả sử dụng năng lượng đối với tổ chức, cá nhân phải minh bạch và có tác động thúc đẩy thực sự cho hoạt động này.
Nhiều nước trên thế giới đã đạt những thành tựu rất ấn tượng trong lĩnh vực nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng chính là nhờ nhưng tác động mạnh mẽ và hữu hiệu từ phía các cơ quan quản lý nhà nước. Kinh nghiệm của những nước này là bài học quý đối với các cơ quan hữu trách Việt Nam để có thể thực hiện thành công các nội dung của chương trình mục tiêu quốc gia 10 năm (2006-2015) “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”.