Luật Viễn thông bao gồm 10 chương, 63 điều, trong đó có những nội dung mới quan trọng như: Quy định các DN thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo pháp luật Việt Nam đều được tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông, cũng như thiết lập hạ tầng viễn thông.
Luật Viễn thông cũng đưa ra một số quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người sử dụng dịch vụ viễn thông như nghĩa vụ cung cấp dịch vụ viễn thông công ích; Quy định chi tiết hợp đồng mẫu; trách nhiệm của các DN viễn thông trước khi đưa ra các thiết bị mạng, thiết bị đo lường tính giá cước vào hoạt động phải thực hiện việc kiểm định…
Ngoài ra, Luật Viễn thông sẽ áp dụng cơ chế thị trường trong tài nguyên viễn thông; Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh viễn thông trong môi trường bình đẳng, công bằng, minh bạch theo cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, bảo đảm phổ cập dịch vụ viễn thông ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; Bảo đảm quy hoạch, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông bền vững an toàn.
Luật Tần số vô tuyến điện gồm 8 chương, 49 điều, trong đó bổ sung nhiều nội dung mới nhằm khắc phục những bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và trong công tác quản lý hiện nay. Các quy định mới về quy hoạch tần số (điều 10,11,12), nguyên tắc cấp phép sử dụng tần số (điều 17) sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho việc ứng dụng các công nghệ vô tuyến mới có hiệu quả.
Những quy định mới của Luật Tần số vô tuyến điện tại điều 18, 24 nhằm bổ sung hình thức cấp phép theo cơ chế thị trường thông qua việc thi tuyển, hay đấu giá quyền sử dụng tần số sẽ cho phép lựa chọn những DN có năng lực thực sự, cung cấp dịch vụ tốt nhất. Như vậy, thị trường dịch vụ thông tin vô tuyến điện sẽ trở nên lành mạnh và có tính cạnh tranh thực sự.
Các quy định về trách nhiệm của các DN, cơ quan quản lý trong việc đăng ký và phối hợp quốc tế về tần số và quỹ đạo vệ tinh sẽ tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia về tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh.
Vũ Kiên